Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khái niệm thế trận lòng dân. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khái niệm thế trận lòng dân. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

KHÁI NIỆM THẾ TRẬN LÒNG DÂN

    Khái niệm thế trận lòng dân 

Bài viết theo quan điểm của Âm thanh hội trường

 

Thế trận lòng dân là phạm trù hàm chứa những giá trị tinh thần, sức mạnh tinh thần trong khoa học chính trị, xã hội, nhân văn, quân sự đã và đang được sử dụng ngàng càng phổ biến ở Việt Nam. Làm sáng tỏ phạm trù này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong xây dựng, củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
Thế trận lòng dân là thuật ngữ chỉ trạng thái "lòng dân" trở thành thế trận được tạo lập bởi lực lượng đại biểu lợi ích quốc gia - dân tộc,... và được lực lượng đại biểu lợi ích quốc gia - dân tộc,...  sử dụng cho mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước.
“Lòng dân”thuật ngữ dùng để chỉ trạng thái tâm lý, tinh thần của nhân dân, bao gồm: Thái độ, nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, sự đồng thuận, đồng sức, đồng lòng, niềm tin, sự ủng hộ, phục tùng, trách nhiệm của nhân dân đối với các chủ thể chính trị, quan điểm chính trị, đường lối chính trị, hoặc các vấn đề chính trị - xã hội. Do vậy, “lòng dân” được hình thành một cách tự nhiên trước tác động của ngoại cảnh, phụ thuộc vào giai cấp, lực lượng lãnh đạo nhưng không phải lúc nào cũng tin cậy, ủng hộ, phục tùng, đồng thuận với sự lãnh đạo, điều hành của giai cấp lãnh đạo. Mức độ tin cậy, phục tùng giai cấp, lực lượng lãnh đạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến vị trí, vai trò của giai cấp, lực lượng lãnh đạo.



Chiến dịch Điện Biên Phủ - Đỉnh cao của Thế trận lòng dân

Trong lĩnh vực quân sự: “Thế trận là tổng thể các biện pháp tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường (kết hợp với yếu tố địa hình trên một địa bàn cụ thể), nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến đấu để giành thắng lợi trong tác chiến. Thế trận phải phù hợp với ý định tác chiến, thế trận luôn vận động và phát triển theo các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa hai bên đối địch”[1].
Bản thân "lòng dân" không thể trở thành thế trận, không phát huy được sức mạnh nếu nó không được tập hợp, tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng, xây dựng, phát huy theo mục tiêu thống nhất. Để yếu tố lòng dân trở thành thế trận phải có các điều kiện sau đây: “lòng dân” được khơi dậy, xây dựng, quy tụ, tập hợp; được đặt vào trạng thái, tình thế nhất định; được bố trí, triển khai trong mọi tầng lớp dân cư, mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội; được định hướng, điều khiển, dẫn dắt bởi các lãnh tụ, đảng chính trị, lực lượng đại biểu cho lợi ích quốc gia - dân tộc... để phục vụ cho những mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước do các lãnh tụ, đảng chính trị, lực lượng đại biểu cho lợi ích quốc gia - dân tộc... đề ra.


[[Một cách thức xây dựng thế trận lòng dân hiện nay:
Thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam 
 là hãng công nghệ hàng đầu về các thiết bị điện
 tử, công nghệ số thực sự Made in Việt Nam thời đại cách mạng 
công nghiệp 4.0. Các thiết bị truyền thanh AAV đều được các kĩ
 sư giỏi nhất về âm thanh, ánh sáng, điện tử, tự động hóa, công 
nghệ thông tin nghiên cứu, chế tạo, được sản xuất trên dây chuyền
 hiện đại, linh kiện cao cấp. Do vậy, sản phẩm thiết bị truyền thanh
 AAV Việt Nam - made in Việt Nam chất lượng quốc tế, giá thành 
Việt Nam. Các thiết bị truyền thanh hãng AAV  đều  có tính năng
tiên tiến, ưu việt hơn hẳn các thiết bị truyền thanh nhập ngoại.
Hãng AAV Việt Nam đã thực sự quy tụ được những tài hoa nhất để 
tạo dựng thương hiệu Made in Vietnam. Đó cũng chính 
là biết ứng dụng thế trận lòng dân trong thời kì cách mạng 
công nghiệp lần thứ 4 rất sôi động hiện nay. 
Thế trận lòng dân trong lịch sử dựng nước, giữ nước Việt Nam là hiện tượng xã hội hiện thực. Về thực chất, đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân được các lực lượng đại biểu lợi ích của dân tộc khơi dậy, quy tụ, phát huy, tạo nên nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dựng nước, giữ nước. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân là điều kiện rất quan trọng, song bản thân nó không thể trở thành thế trận, nếu không được các lực lượng đại biểu cho lợi ích quốc gia - dân tộc khơi dậy, quy tụ, phát huy. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của mỗi người dân sẽ không có giá trị thực tiễn nếu không được thông qua hoạt động cụ thể, không được dẫn dắt, điều khiển, quy tụ về mục mục tiêu chung, phục tùng sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của lực lượng đại biểu lợi ích quốc gia - dân tộc. Nếu được huy động, tập hợp tốt sẽ có tác dụng tạo nên sức mạnh to lớn, như hàng ngàn, triệu chi nhánh đổ về dòng sông lớn mạnh; những lực lượng được bố trí tầng tầng lớp lớp, tạo ra thế có lợi nhất, vững chắc, hiểm hóc, kiên cường.




Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc

Là một dạng thế trận, thế trận lòng dân có những cấp (mức) độ khác nhau (mức cao: vững chắc, hiểm hóc, uyển chuyển linh hoạt; mức trung bình: chưa hoàn toàn vững chắc; mức thấp: sơ hở, lỏng lẻo, phân tán…). Thế trận lòng dân có cấp độ cao, yếu tố chính trị tinh thần sẽ đạt hiệu quả cao, tạo sức mạnh to lớn cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, thế trận lòng dân ở cấp độ thấp, chất lượng của yếu tố chính trị tinh thần sẽ không cao.
Nếu như khái niệm thế trận phản ánh tập trung vào những yếu tố mang tính chất vật chất hữu hình, sử dụng địa hình, địa vật, tổ chức, bố trí lực lượng, vận dụng cách đánh, phương thức tác chiến..., thì thế trận lòng dân là khái niệm phản ánh tập trung vào yếu tố tinh thần, ý thức của nhân dân được khơi dậy, quy tụ, phát huy, điều khiển, dẫn dắt thông qua lực lượng vật chất để phát huy sức mạnh lớn nhất thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ cách tiếp cận trên, khái niệm thế trận lòng dân:

 Thế trận lòng dân là trạng thái chính trị - tinh thần của nhân dân được thể hiện ở lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự đồng thuận, ý chí quyết tâm, ý thức trách nhiệm công dân,... được các tổ chức, lực lượng đại biểu chân chính cho lợi ích của quốc gia - dân tộc khơi dậy, xây dựng, quy tụ, định hướng, điều khiển, dẫn dắt, tạo nên môi trường chính trị - xã hội để huy động mọi tiềm lực, phát huy sức mạnh tổng hợp vào thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thế trận lòng dân ở Việt Nam hiện naytrạng thái chính trị - tinh thần của nhân dân, được thể hiện ở lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; niềm tin, trách nhiệm, sự phục tùng của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; được Đảng, Nhà nước khơi dậy, xây dựng, quy tụ, định hướng, lãnh đạo, điều hành, tạo nên môi trường chính trị - xã hội để huy động mọi tiềm lực, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Từ khái niệm trên đây cho thấy, thế trận lòng dân ở Việt Nam hiện nay được cấu thành bởi nhiều thành tố, trong đó, các thành tố cơ bản như sau:

Nhận thức, ý chí, tình cảm, tinh thần yêu nước, đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thế trận lòng dân chính là nhân tố chính trị - tinh thần của toàn dân, nhân tố nền tảng cho phép phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp toàn dân giữ nước. Nhân tố chính trị - tinh thần ấy hàm chứa nội dung cốt lõi là nhận thức, ý chí, tình cảm, tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu, trách nhiệm của nhân dân. Nhân tố đó được củng cố, giữ vững và nâng cao là cơ sở có ý nghĩa quyết định để huy động toàn dân tham gia giữ nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân giữ nước, là nhân tố nền tảng tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước. Chính vì vậy, nhận thức, ý chí, tình cảm, tinh thần yêu nước, đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một thành tố cơ bản của thế trận lòng dân.

Niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật cường của toàn thể dân tộc chỉ trở thành thế trận khi được các đại biểu đại diện lợi ích dân tộc, nhà cầm quyền, lãnh tụ cách mạng phát huy, tập hợp, quy tụ, định hướng, dẫn dắt, điều khiển, lãnh đạo, quản lý. Song để đạt được sự phát huy, tập hợp, quy tụ, định hướng... phải có được niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc là cơ sở để toàn dân phát huy hết tinh thần, trách nhiệm và mọi lực lượng của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, niềm tin của nhân dân Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay là một thành tố cơ bản của thế trận lòng dân.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo, huy động, tập hợp, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của toàn dân thể hiện rõ nét ở việc nhân dân che chở, bảo vệ, ủng hộ, giúp đỡ hết lòng các lực lượng, các giai cấp giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Dân tộc không tách rời mối quan hệ với giai cấp. Lòng yêu nước, ý chí chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc của toàn dân bao giờ cũng gắn liền với một đường lối, một thể chế chính trị nhất định. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu quật cường của toàn dân chỉ trở thành thế trận một khi tinh thần và ý chí ấy được các lực lượng tiến bộ, yêu nước đại biểu cho dân tộc nhận thức đúng, khơi dậy và quy tụ nhằm mục tiêu giữ nước. Điều đó chỉ có được khi và chỉ khi có sự lãnh đạo, chỉ đạo, huy động, tập hợp, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này cũng đã khẳng định, sự lãnh đạo, chỉ đạo, huy động, tập hợp, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thành tố cơ bản, quyết định của thế trận lòng dân.

  Sự phục tùng, trách nhiệm, ý thức làm chủ của nhân dân đối với sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

  Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng: Lòng yêu nước, tinh thần hy sinh vì độc lập dân tộc của nhân dân không bao giờ cạn, nhưng lòng dân phải được nhận thức đúng, phải được khơi dậy, quy tụ vào mục tiêu giữ nước mới tạo nên sức mạnh, tạo nên được thế trận lòng dân. Với nhận thức như vậy, các lực lượng lãnh đạo dân tộc đã chú trọng khơi dậy, quy tụ lòng dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị là bảo vệ nền độc lập, tự do, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Điều đó chỉ đạt được khi và chỉ khi có được sự phục tùng, trách nhiệm, ý thức làm chủ của nhân dân đối với sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, sự phục tùng, trách nhiệm, ý thức làm chủ của nhân dân đối với sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thành tố cơ bản của thế trận lòng dân.




Thanh niên cả nước tự hào hăng hái lên đường đánh giặc

Mục đích xây dựng thế trận lòng dân 

là phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân trong công cuộc giữ nước. Lòng dân trở thành nền tảng chính trị - tinh thần để thực hiện vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh toàn dân, phát triển nghệ thuật quân sự độc đáo nhằm xây dựng đất nước, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Lòng dân đã trở thành chỗ dựa, quy định nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc ta - nghệ thuật quân sự cả nước ra quân, toàn dân đánh giặc. Hoạt động xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội và tác chiến của quân đội đều dựa vào lòng dân, được dân tham gia, giúp đỡ, ủng hộ, che chở.

   Những biểu hiện của thế trận lòng dân

Thế trận lòng dân được biểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau, trong đó, những trạng thái biểu hiện rõ nét là:
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, thái độ chính trị trước những vấn đề trọng đại của đất nước; sự đồng sức, đồng lòng, tinh thần chịu đựng hy sinh gian khổ, ý chí chiến đấu của nhân dân.
 Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí của nhân dân - không phải là lòng yêu nước cực đoan, manh động hoặc yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mà đó là lòng yêu nước chân chính được các tổ chức đảng, chính quyền các cấp có thể phát huy làm nền tảng để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, cả chế độ, quốc gia - dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng. Niềm tin, sự ủng hộ, tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết, tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí chiến đấu của nhân dân trong giải quyết những vấn đề về quốc phòng, an ninh của đất nước là một biểu hiện nổi bật của thế trận lòng dân.
 Trạng thái tinh thần, sự đồng thuận, ý thức chấp hành của nhân dân với Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trước những tình huống quốc phòng, an ninh, tinh thần hăng hái của nhân dân tham gia xây dựng nền quốc phòng, đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Trách nhiệm của công dân trong thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng trong thời bình; trách nhiệm, tinh thần chiến đấu, ý chí quyết thắng, sẵn sàng hy sinh, gian khổ... khi có tình huống quốc phòng hoặc chiến tranh xảy ra.




[1] Bộ Quốc phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H.2004, Tr.931

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

Khái niệm xây dựng thế trận lòng dân

Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, từ "xây dựng" được quan niệm là tổng thể các cách thức, biện pháp được chủ thể tiến hành, tác động đến đối tượng nhằm đạt được mục tiêu nào đó do chủ thể định ra. Do vậy, xây dựng thế trận lòng dân đó là quá trình Đảng, Nhà nước dùng các công cụ, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành tác động vào yếu tố lòng dân nhằm hướng tới mục tiêu tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở khái niệm thế trận lòng dân, có thể khái niệm xây dựng thế trận lòng dân như sau:

Xây dựng thế trận lòng dân là tổng thể các cách thức, biện pháp của Đảng, Nhà nước, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp để hình thành, khơi dậy, quy tụ và phát huy chủ nghĩa yêu nước, niềm tự hào, tinh thần đoàn kết dân tộc, sự đồng thuận xã hội, ý chí quyết tâm, niềm tin, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng, củng cố, hợp tác, đấu tranh, nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Khái niệm xây dựng thế trận lòng dân chỉ ra những vấn đề cơ bản:

          Một là, chủ thể lãnh đạo xây dựng thế trận lòng dân Đảng Cộng sản Việt Nam, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam, do vậy là chủ thể lãnh đạo toàn diện xây dựng thế trận lòng dân ở Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng được tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Cấp ủy, tổ chức đảng các các cấp có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng thế trận lòng dân theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phạm vi quy định cho từng cấp.

Hai là, chủ thể quản lí, điều hành xây dựng thế trận lòng dân là Nhà nước, chính quyền các cấp.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chức năng quản lý, điều hành mọi mặt hoạt động xã hội trên đất nước Việt Nam, do vậy là chủ thể quản lý, điều hành mọi mặt xây dựng thế trận lòng dân ở Việt Nam. Chính quyền các cấp có trách nhiệm quản lý, điều hành xây dựng thế trận lòng dân theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phạm vi quy định cho từng cấp.

 Ba là, lực lượng tiến hành xây dựng thế trận lòng dân là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó cấp ủy, chính quyền các cấp là lực lượng nòng cốt.

Bốn là, đối tượng xây dựng thế trận lòng dân  là toàn thể công dân Việt Nam; đối tượng mở rộng bao gồm: Kiều bào Việt Nam ở nước ngoài; người nước ngoài sống ở Việt Nam (và có thể mở rộng đến nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới).

Năm là, mục đích xây dựng thế trận lòng dân

 Nâng nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn dân, đảm bảo cho toàn dân phục tùng sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của Đảng, Nhà nước trong xây dựng, củng cố, nâng cao sức mạnh quốc phòng. “... Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”[1]. Trên cơ sở đó không ngừng tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, nội dung xây dựng thế trận lòng dân 

Gồm tổng thể hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động sự lãnh đạo của Đảng, điều hành, quản lý của Nhà nước; nâng cao nhận thức trách nhiệm, niềm tin của nhân dân; nội dung công tác tư tưởng, tổ chức,... Đó là tổng hợp các nội dung khơi dậy, quy tụ, phát huy chủ nghĩa yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của công dân, sự đồng thuận ý chí quyết tâm của toàn dân với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng, quy tụ, phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, ý thức và lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân trong một thế trận quốc phòng, an ninh thống nhất.
           Xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo được sự thống nhất giữa ý Đảng với lòng dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
          Xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc tạo sự đồng thuận xã hội và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 
Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại làm nền tảng để huy động lòng dân cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 
Xây dựng lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, ý chí quyết tâm chiến đấu, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của công dân; toàn dân hiểu đúng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, pháp luật về quốc phòng, quân sự và sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước trong xây dựng, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng, củng cố đoàn kết quốc tế, tạo sự ủng hộ, đóng góp, tham gia tích cực của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới vào xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
          Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động làm phá hoại mối quan hệ Đảng - dân, ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân.

{{{Một kinh nghiệm quý về xây dựng thế trận lòng dân: 
Thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam là hãng công nghệ 
hàng đầu về các thiết bị điện tử, công nghệ số tự hào 
Made in Việt Nam thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
 Các thiết bị truyền thanh AAV như: Tăng âm 
truyền thanh, micro hội thảo, loa phóng thanh, thiết bị hội thảo, loa hộp,
 mixer, equalizer, loa sân khấu, thiết bị ánh sáng đều được các kĩ sư 
giỏi nhất về âm thanh, ánh sáng, điện tử, tự động hóa, 
công nghệ thông tin nghiên cứu, chế tạo, được sản xuất trên
 dây chuyền hiện đại, linh kiện cao cấp. Do vậy, sản phẩm
 thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam - made in Việt Nam 
chất lượng quốc tế, giá thành Việt Nam. Các thiết bị truyền thanh
 hãng AAV  đều  có tính năngtiên tiến, ưu việt hơn hẳn các 
thiết bị truyền thanh nhập ngoại. Thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam 
tự hào thương hiệu Made in Vietnam. Đây cũng chính là một 
cách thức mới về xây dựng thế trận lòng dân trong thời kì 
cách mạng công nghiệp lần thứ 4}}}

          Mỗi nội dung đều có vị trí, vai trò khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau, nội dung này là điều kiện, tiền đề của nội dung kia và ngược lại. Chỉ có trên cơ sở thực hiện đầy đủ, đồng bộ các nội dung mới phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp để xây dựng, tạo lập thế trận lòng dân vững chắc. Trong tình hình mới, để xây dựng thế trận lòng dân tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần thực hiện đầy đủ, đồng bộ các nội dung, trước hết, cần tập trung vào các nội dung trọng tâm. Đó là: Phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh vào tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng lòng tin và nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng, củng cố đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, tạo sự đồng thuận xã hội và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động làm ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân.

Nội dung phát huy chủ nghĩa yêu nước hiện nay

Làm cho mọi tầng lớp nhân dân có những phẩm chất như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã xác định: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong cuộc sống”[2]. Phát huy tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ; niềm tự hào về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những truyền thống tốt đẹp khác của dân tộc. Yêu nước gắn liền với yêu dân, với tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc trên thế giới… Tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tình yêu quê hương, xứ sở và sự gắn bó, cố kết cộng đồng; bản sắc văn hoá riêng của dân tộc; khẳng định nền quốc phòng chính nghĩa Việt Nam; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; người dân có ý chí thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh; lao động chăm chỉ, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ý thức trách nhiệm cao với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những giá trị cốt lõi của văn hóa, của bản sắc dân tộc và bản lĩnh Việt Nam.

          Nội dung cần tập trung xây dựng củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

Xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự phục tùng của nhân dân với Đảng, Nhà nước là phải xây dựng, củng cố, nâng cao nhận thức, niềm tin của nhân dân về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển kinh tế tri thức; tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng; củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng với dân ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở; phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân và các tổ chức quần chúng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở và giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên, trong đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái; nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân trong thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc; nâng cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân, chống quan liêu xa rời nhân dân; chống mọi hành động phá hoại, công kích vào mối quan hệ mật thiết đó, chia rẽ Đảng với dân, lôi kéo, kích động, tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm cho dân xa Đảng, thậm chí đối lập dân với Đảng.

Nội dung cơ bản cần tập trung xây dựng lòng tin và nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc 

Xây dựng toàn dân có nhận thức đúng mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tin tưởng vào nền quốc phòng chính nghĩa Việt Nam; quan điểm, đường lối, chính sách quốc phòng Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tính đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt trong giải quyết những vấn đề quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ mới; sức mạnh quốc phòng của đất nước, sức mạnh, khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang, quân đội; sự thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng niềm tự hào truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc, nhận thức đúng đắn về quyền lợi, nghĩa vụ, vinh dự và trách nhiệm của toàn dân với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật, tạo sự bình đẳng trước pháp luật, nhất là thực hiện Luật Quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Dân quân tự vệ, tích cực tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tích cực tham gia đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, tuyên truyền xuyên tạc, lung lạc, lôi kéo dân, làm cho nhân dân mơ hồ, mất cảnh giác, nhận thức sai lệch về sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát huy tài năng, trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân vào tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; phát huy dân chủ xã hội, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, trọng dụng nhân tài vào sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

           Nội dung cốt lõi của xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tạo sự đồng thuận xã hội

 Xây dựng, nâng cao nhận thức cho toàn dân hiểu rõ mục tiêu chung của sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng vào mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước. Xây dựng, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Giữ vững sự ổn định chính trị, sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước được tăng cường; giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong nội bộ nhân dân; giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, tích cực hội nhập, tăng cường quan hệ quốc tế vì mục tiêu hòa bình, độc lập, đoàn kết, bình đẳng, cùng có lợi; xây dựng dân chủ xã hội, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng mối quan hệ đoàn kết tốt đẹp giữa Đảng với dân, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Giải quyết tốt các mối quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, chuyển hóa đối tượng thành đối tác...; giải quyết tốt giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế. Phát huy cao độ tinh thần yêu nước, hướng về Tổ quốc của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài; ủng hộ vật chất tinh thần cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ủng hộ, giúp đỡ nền quốc phòng chính nghĩa Việt Nam.

            Những nội dung cần tập trung đấu tranh để làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn làm ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân

 Đấu tranh chống lại sự phá hoại mối quan hệ Đảng - dân, làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hành động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; các quan điểm sai trái thù địch, hệ tư tưởng tư sản, cơ hội, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, cục bộ, bản vị, dân tộc hẹp hòi, ý thức kém về nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm, tư tưởng, hành động chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chống phá nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước ta; chống phá đường lối, quan điểm, chính sách quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đấu tranh chống chủ nghĩa yêu nước cực đoan, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, những tư tưởng, hành động làm giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội nghĩa, cách ứng xử, đối sách của Đảng, Nhà nước trước những vấn đề phức tạp về chủ quyền lãnh thổ; các hành động làm phân tán lòng dân, phá vỡ thế trận lòng dân.

Writer by Thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam 

and Editing by Tăng âm truyền thanh AAV Việt Nam
 May 2019


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 149
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb CTQG, H.1998, Tr.23

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

QUAN ĐIỂM, QUAN NIỆM VỀ NHÂN DÂN, THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG LỊCH SỬ

Thế trận lòng dân là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), nhất là sau Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII (1991), dùng để chỉ yếu tố lòng dân được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp quy tụ, phát huy tạo thành "thế trận" thực hiện mục tiêu chính trị, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng, bảo vệ đất nước. Trong lịch sử dân tộc trước đây cũng như lịch sử nhân loại chưa sử dụng thuật ngữ thế trận lòng dân, tuy nhiên, những vấn đề về vai trò của quần chúng nhân dân, yếu tố lòng dân, nghệ thuật sử dụng lực lượng quần chúng,... đã được các chính trị gia, các quốc gia, dân tộc trên thế giới, các triều đại phong kiến Việt Nam hết sức chú trọng. Nhiều nội dung của thế trận lòng dân đã thành những luận điểm, quan điểm chính trị, quân sự ở nhiều quốc gia trên thế giới ngay từ thời cổ đại, trải qua các quá trình lịch sử, phát triển đỉnh cao trong cách mạng XHCN.
Trong lịch sử nhân loại, các quan điểm chính trị, quân sự, triết học trước Mác đều chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của quần chúng nhân dân, thường hoặc phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, một số triết gia, chính trị học đã nhận thức được quần chúng có vai trò hết sức to lớn trong xã hội, xây dựng những học thuyết chính trị về sử dụng lực lượng quần chúng, về yếu tố lòng dân trong giành, giữ, thực thi chính quyền được nhiều vương triều phong kiến sử dụng trị vì xã hội. Tiêu biểu là: Periklès, Khổng Tử và Mạnh Tử.
Periklès là nhà triết gia, lãnh tụ dân chủ uy tín nhất của Athens (Hy Lạp cổ đại thời kỳ 461-429 trước công nguyên) đã khẳng định, thành quốc không phải do một thiểu số mà do đa số (nhân dân) cai trị... hễ ai có khả năng phục vụ nhà nước thì điều kiện tăm tối của đương sự không hề là một trở ngại.
Khổng Tử, nhà triết học lớn của Trung Hoa thời cổ đại đã coi điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền là phải được lòng dân. Muốn được lòng dân, nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân, tức là chăm lo cải thiện đời sống cho dân và phải biết giáo dân, phải chịu khó lo liệu giúp đỡ cho dân, đặc biệt là phải biết làm cho dân giàu.
Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo Trung Hoa thời cổ đại đã bàn luận rất nhiều về dân. Ông cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích của dân. Lợi ích của dân cũng là lý do tồn tại của thiên tử, chư hầu, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, có nghĩa là dân là quý hơn hết, xã tắc là thứ yếu, vua là thường vì có thể thay đổi vua, được dân là được tất cả, mất dân là mất tất cả.
Tuy nhiên, do hạn chế về thế giới quan duy tâm hoặc duy vật siêu hình nên các quan điểm trên đây chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò của sức mạnh quần chúng nhân, yếu tố lòng dân trong kiến tạo, xây dựng xã hội.
Theo suốt chiều dài lịch sử, ông cha ta đã có quan điểm về vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân, của yếu tố lòng dân, sức mạnh của nhân dân trong quá trình dựng nước, giữ nước.
Các nhà tư tưởng thời kỳ Lý - Trần đã nói nhiều về "ý dân", "lòng dân", coi việc "khoan thư sức dân" là điều hệ trọng bậc nhất trong các hoạt động chính trị. Trong "Chiếu dời đô", Lý Công Uẩn đã nói: "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân..." . Trong bài "Văn lộ bố" khi tiến hành cuộc chiến tấn công quân Tống ở biên giới phía Bắc, Lý Thường Kiệt đã nói: "Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân". Trần Quốc Tuấn, người có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong công cuộc giữ nước, nêu lên tư tưởng "chúng chí thành thành", ý chí của dân là bức thành kiên cố nhất của nước. Sau này, trước khi qua đời, Trần Quốc Tuấn đã tổng kết lịch sử và khẳng định: "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức" là sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp giữ nước.
Thấy rõ nguyên nhân thất bại, khi chiến tranh xảy ra, nhân dân không ủng hộ, dẫn đến mất nước, Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly đã nói: “Giặc mạnh thần không sợ, chỉ sợ lòng dân không theo” . Nguyễn Trãi đã khẳng định sức mạnh vô cùng to lớn của lòng dân. Ông chỉ rõ "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" và khẳng định một nguyên lý rất cơ bản trong giữ nước của dân tộc Việt Nam là lấy đại nghĩa, chí nhân thắng hung tàn, cường bạo. Tổng kết kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi cho rằng, nguyên nhân quan trọng giành thắng lợi là do: ''dân chúng bốn phương tụ hợp...". Phan Bội Châu - một nhà yêu nước lớn của dân tộc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khẳng định, người cả nước không đồng tâm thì dù có anh hùng cũng không thể cứu được nước. 
Mác - Lênin khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quần chúng nhân dân được thể hiện: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội; là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội; là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng và cải cách trong lịch sử.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát rằng trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người phân tích: Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là nhân hòa, nghĩa là mọi người dân đều nhất trí, đồng lòng. Người đã từng khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Chính vì thế “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn ai hết, không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền gốc để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là sự đoàn kết toàn dân, muôn người như một, Người nhấn mạnh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm "lấy dân làm gốc", sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xây dựng nền QPTD, chiến tranh nhân dân. Do đó, đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của cả dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử nước nhà như những mốc son chói lọi nhất.
Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh Quân đội ta và nhiều nhà khoa học trong các công trình, bài viết của mình, đã đề cập đến thuật ngữ thế trận lòng dân với tư cách là một nội dung cơ bản của nền QPTD; của sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN. Trong đó, nhấn mạnh xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc, được Đảng ta kế thừa xuất sắc trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phòng BVTQ trong điều kiện mới.

       Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta chỉ rõ quan điểm cơ bản trong nhiệm vụ BVTQ hiện nay là xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ tăng cường QP-AN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, trong đó nhấn mạnh: "Tăng cường sức mạnh QP-AN cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược BVTQ" . Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược BVTQ, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường tiềm lực QP-AN của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, thế trận lòng dân..."

Trong xây dựng thế trận lòng dân, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định xây dựng, củng cố, phát huy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam; xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; xây dựng sự đồng thuận xã hội; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ BVTQ, ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch...
Như vậy, quan niệm thế trận lòng dân đã dần hình thành, nội dung thế trận lòng dân ngày càng sáng tỏ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp và trong toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.
Bài viết bởi tác giả: Tăng âm truyền thanhthiết bị truyền thanh