Hiển thị các bài đăng có nhãn lực lượng quần chúng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lực lượng quần chúng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

QUAN ĐIỂM, QUAN NIỆM VỀ NHÂN DÂN, THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG LỊCH SỬ

Thế trận lòng dân là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), nhất là sau Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII (1991), dùng để chỉ yếu tố lòng dân được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp quy tụ, phát huy tạo thành "thế trận" thực hiện mục tiêu chính trị, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng, bảo vệ đất nước. Trong lịch sử dân tộc trước đây cũng như lịch sử nhân loại chưa sử dụng thuật ngữ thế trận lòng dân, tuy nhiên, những vấn đề về vai trò của quần chúng nhân dân, yếu tố lòng dân, nghệ thuật sử dụng lực lượng quần chúng,... đã được các chính trị gia, các quốc gia, dân tộc trên thế giới, các triều đại phong kiến Việt Nam hết sức chú trọng. Nhiều nội dung của thế trận lòng dân đã thành những luận điểm, quan điểm chính trị, quân sự ở nhiều quốc gia trên thế giới ngay từ thời cổ đại, trải qua các quá trình lịch sử, phát triển đỉnh cao trong cách mạng XHCN.
Trong lịch sử nhân loại, các quan điểm chính trị, quân sự, triết học trước Mác đều chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của quần chúng nhân dân, thường hoặc phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, một số triết gia, chính trị học đã nhận thức được quần chúng có vai trò hết sức to lớn trong xã hội, xây dựng những học thuyết chính trị về sử dụng lực lượng quần chúng, về yếu tố lòng dân trong giành, giữ, thực thi chính quyền được nhiều vương triều phong kiến sử dụng trị vì xã hội. Tiêu biểu là: Periklès, Khổng Tử và Mạnh Tử.
Periklès là nhà triết gia, lãnh tụ dân chủ uy tín nhất của Athens (Hy Lạp cổ đại thời kỳ 461-429 trước công nguyên) đã khẳng định, thành quốc không phải do một thiểu số mà do đa số (nhân dân) cai trị... hễ ai có khả năng phục vụ nhà nước thì điều kiện tăm tối của đương sự không hề là một trở ngại.
Khổng Tử, nhà triết học lớn của Trung Hoa thời cổ đại đã coi điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền là phải được lòng dân. Muốn được lòng dân, nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân, tức là chăm lo cải thiện đời sống cho dân và phải biết giáo dân, phải chịu khó lo liệu giúp đỡ cho dân, đặc biệt là phải biết làm cho dân giàu.
Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo Trung Hoa thời cổ đại đã bàn luận rất nhiều về dân. Ông cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích của dân. Lợi ích của dân cũng là lý do tồn tại của thiên tử, chư hầu, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, có nghĩa là dân là quý hơn hết, xã tắc là thứ yếu, vua là thường vì có thể thay đổi vua, được dân là được tất cả, mất dân là mất tất cả.
Tuy nhiên, do hạn chế về thế giới quan duy tâm hoặc duy vật siêu hình nên các quan điểm trên đây chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò của sức mạnh quần chúng nhân, yếu tố lòng dân trong kiến tạo, xây dựng xã hội.
Theo suốt chiều dài lịch sử, ông cha ta đã có quan điểm về vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân, của yếu tố lòng dân, sức mạnh của nhân dân trong quá trình dựng nước, giữ nước.
Các nhà tư tưởng thời kỳ Lý - Trần đã nói nhiều về "ý dân", "lòng dân", coi việc "khoan thư sức dân" là điều hệ trọng bậc nhất trong các hoạt động chính trị. Trong "Chiếu dời đô", Lý Công Uẩn đã nói: "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân..." . Trong bài "Văn lộ bố" khi tiến hành cuộc chiến tấn công quân Tống ở biên giới phía Bắc, Lý Thường Kiệt đã nói: "Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân". Trần Quốc Tuấn, người có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong công cuộc giữ nước, nêu lên tư tưởng "chúng chí thành thành", ý chí của dân là bức thành kiên cố nhất của nước. Sau này, trước khi qua đời, Trần Quốc Tuấn đã tổng kết lịch sử và khẳng định: "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức" là sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp giữ nước.
Thấy rõ nguyên nhân thất bại, khi chiến tranh xảy ra, nhân dân không ủng hộ, dẫn đến mất nước, Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly đã nói: “Giặc mạnh thần không sợ, chỉ sợ lòng dân không theo” . Nguyễn Trãi đã khẳng định sức mạnh vô cùng to lớn của lòng dân. Ông chỉ rõ "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" và khẳng định một nguyên lý rất cơ bản trong giữ nước của dân tộc Việt Nam là lấy đại nghĩa, chí nhân thắng hung tàn, cường bạo. Tổng kết kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi cho rằng, nguyên nhân quan trọng giành thắng lợi là do: ''dân chúng bốn phương tụ hợp...". Phan Bội Châu - một nhà yêu nước lớn của dân tộc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khẳng định, người cả nước không đồng tâm thì dù có anh hùng cũng không thể cứu được nước. 
Mác - Lênin khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quần chúng nhân dân được thể hiện: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội; là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội; là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng và cải cách trong lịch sử.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát rằng trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người phân tích: Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là nhân hòa, nghĩa là mọi người dân đều nhất trí, đồng lòng. Người đã từng khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Chính vì thế “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn ai hết, không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền gốc để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là sự đoàn kết toàn dân, muôn người như một, Người nhấn mạnh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm "lấy dân làm gốc", sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xây dựng nền QPTD, chiến tranh nhân dân. Do đó, đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của cả dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử nước nhà như những mốc son chói lọi nhất.
Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh Quân đội ta và nhiều nhà khoa học trong các công trình, bài viết của mình, đã đề cập đến thuật ngữ thế trận lòng dân với tư cách là một nội dung cơ bản của nền QPTD; của sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN. Trong đó, nhấn mạnh xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc, được Đảng ta kế thừa xuất sắc trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phòng BVTQ trong điều kiện mới.

       Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta chỉ rõ quan điểm cơ bản trong nhiệm vụ BVTQ hiện nay là xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ tăng cường QP-AN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, trong đó nhấn mạnh: "Tăng cường sức mạnh QP-AN cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược BVTQ" . Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược BVTQ, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường tiềm lực QP-AN của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, thế trận lòng dân..."

Trong xây dựng thế trận lòng dân, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định xây dựng, củng cố, phát huy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam; xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; xây dựng sự đồng thuận xã hội; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ BVTQ, ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch...
Như vậy, quan niệm thế trận lòng dân đã dần hình thành, nội dung thế trận lòng dân ngày càng sáng tỏ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp và trong toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.
Bài viết bởi tác giả: Tăng âm truyền thanhthiết bị truyền thanh

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM


Lịch sử hàng nghìn năm dựng, giữ nước của dân tộc ta cho thấy, để xây dựng và BVTQ, hầu hết triều đại đều quan tâm yếu tố lòng dân, xây dựng thế trận lòng dân; coi yếu tố lòng dân là một trong những thành tố đặc biệt quan trọng, cơ sở nền tảng để thúc đẩy, phát huy các thành tố khác, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất to lớn trong xây dựng và BVTQ. Tuy nhiên, cũng có triều đại không quan tâm đúng mức việc xây dựng thế trận lòng dân nên đã gặp thất bại, đất nước lâm nguy.
Thời kỳ bắt đầu dựng nước, giữ nước, Nước Văn Lang của các Vua Hùng ngay từ đầu đã phải đối phó với các âm mưu, ý đồ và tham vọng xâm lấn, bành trướng của các thế lực bá quyền phương Bắc. Các Vua Hùng đã tập hợp muôn họ, phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc. "Trước nạn ngoại xâm, sức dân đã lớn lên như thần Phù Đổng,... đánh thắng kẻ thù". Trong cộng đồng người Việt đã sớm hình thành ý thức dân tộc, ý thức giữ nước, ý thức tự lập, tự cường, được nhà nước khơi dậy, quy tụ vào công cuộc xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, tạo cơ sở, tiền đề cho việc hình thành, phát triển thế trận lòng dân ở thời kỳ lịch sử tiếp theo.
Từ thế kỷ II trước Công nguyên đến thế kỷ X, nước ta rơi vào ách thống trị, đô hộ tàn khốc của các vương triều phong kiến phương Bắc, song nhân dân ta vẫn nung nấu tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc. "Tinh thần và ý chí này được những người tiến bộ, tiêu biểu trong nhân dân khơi dậy, quy tụ, phát huy trong các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ, giành lại quyền độc lập dân tộc". Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do hai Bà Trưng lãnh đạo chống lại sự thống trị của Nhà Hán (40-43); tiếp theo, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống chính quyền đô hộ Nhà Hán đã nổ ra trong suốt hai thế kỷ đầu Công nguyên. Sang thế kỷ thứ III, ngay trong thời kỳ bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa, vẫn bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu lãnh đạo chống lại sự đô hộ của Nhà Ngô (248). Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo (722); khởi nghĩa của Phùng Hưng, Phùng Hải vào năm 766; biến binh của Dương Thanh năm 819; khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đầu thế kỷ X; khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ năm 931. Đặc biệt, "năm 938, Ngô Quyền, vị tướng giỏi và là con rể của Dương Đình Nghệ, được quân của các tướng, hào kiệt địa phương cùng đông đảo nhân dân trong vùng cung cấp tình hình sông nước, địa hình, địa vật,... đánh thắng quân Nam Hán xâm lược trên sông Bạch Đằng, giành lại quyền làm chủ đất nước, mở ra thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, kết thúc hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc".
Trong thời kỳ văn minh Đại Việt, mặc dù có những lúc thăng trầm, nhưng nhìn chung các vương triều phong kiến đã ý thức khá đầy đủ vị trí, vai trò và phát huy được lòng dân trong giữ nước, thế trận lòng dân trong thời kỳ này thể hiện tập trung trước hết ở tinh thần đoàn kết, ý chí quyết giữ độc lập dân tộc của toàn dân trong xây dựng nhà nước phong kiến thống nhất, tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Đặc biệt là các cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất của Lê Hoàn (981); kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai (1075-1077) của Nhà Lý; 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông của Nhà Trần ở thế kỷ XIII; kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV; Phong trào Tây Sơn chống quân Thanh ở thế kỷ XVIII; các phong trào chống thực dân Pháp xâm lược khắp từ Bắc chí Nam ở thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Tinh thần yêu nước, ý chí quyết giữ độc lập dân tộc của toàn dân đã được huy động cho các cuộc kháng chiến thắng lợi, lập thành thế trận lòng dân vững chắc, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn cho các triều đại phong kiến lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước. Những lúc nào mà thế trận lòng dân được xây dựng, phát huy tốt thì lúc đó các triều đại phong kiến lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi và xây dựng đất nước phát triển, tiêu biểu như các giai đoạn kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thời kỳ hoàng thịnh của Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn. Trong các thời kỳ này, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân được các triều đại coi trọng, phát huy, quy tụ, "từ đó, tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn để ngăn ngừa, đẩy lùi nhiều cuộc chiến tranh, đánh thắng nhiều kẻ thù lớn, như: Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh,... bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ của đất nước". Ngược lại, lúc nào việc xây dựng thế trận lòng dân không tốt thì lúc đó đất nước lâm nguy, tiêu biểu như Nhà Hồ (đầu thế kỷ XV) cai trị đất nước bằng chính sách quốc trị không hợp lòng dân, xây dựng phát triển nền nghệ thuật quân sự không dựa vào sức mạnh của toàn dân, không xây dựng được ý chí chiến đấu trong binh sỹ,.. do đó đã để đất nước rơi vào tay giặc Minh. "Triều đại chúa Trịnh ở phía Bắc, chúa Nguyễn ở phía Nam (thế kỷ XV-XVIII) luôn tranh giành quyền lực giữa các họ trong triều bằng nội chiến, khiến dân chúng lầm than oán giận, không tạo được sức mạnh của thế trận lòng dân để phát triển đất nước. Triều đình Nhà Nguyễn thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX, đã cai trị đất nước không dựa vào dân, đối lập quyền lợi của dòng họ với quyền lợi tối cao của dân tộc,... kìm hãm phong trào chống Pháp của nhân dân,... không tin vào sức mạnh của dân tộc, khiếp nhược trước sức mạnh của kẻ thù", do đó đất nước đã nhanh chóng bị thực dân Pháp xâm lược.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị, chính thức tuyên bố sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, chống đế quốc, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng thì tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được khơi dậy, phát huy mạnh mẽ và có bước chuyển biến nhảy vọt theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Các tầng lớp nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, tự giác chấp hành đường lối của Đảng trong mọi việc làm, kể cả lúc thuận lợi cũng như trong hoàn cảnh khó khăn của cách mạng.
Ở cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khẩu hiệu giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới, nhân dân cả nước đồng lòng, nhất loạt đứng lên dưới ngọn cờ của Đảng tranh đấu giành độc lập, tạo ra thế trận lòng dân vững chắc để thực hiện tổng khởi nghĩa vũ trang toàn dân. Sức mạnh của toàn dân được phát huy cao độ, do vậy, chỉ trong thời gian ngắn, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi, chính quyền đã về tay công nông từ trung ương cho đến các địa phương ... "Nhờ vậy, cuộc kháng chiến của ta liên tục phát triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từng bước tạo nên thế áp đảo quân địch, kết thúc chiến tranh bằng thắng lợi rực rỡ của Chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" trên phạm vi cả nước.
Mặc dù, sau kháng chiến chống Pháp, có những sai lầm trong cải cách ruộng đất, nhưng Đảng ta đã dám nhìn thẳng vào sự thật, nhanh chóng sửa sai nên đã tiếp tục quy tụ được lòng dân, cả nước một lòng, toàn dân đoàn kết xung quanh Đảng để tiến hành kháng chiến chống Mỹ và kiến quốc.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước anh dũng của nhân dân ta.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến vai trò và giá trị to lớn của thế trận lòng dân đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng. Thế trận lòng dân trong giai đoạn này thể hiện trước hết ở sự đồng thuận của toàn dân với đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng XHCN ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, biên giới nước ta ở phía Tây Nam và phía Bắc bị các thế lực thù địch phát động chiến tranh xâm lấn. Để bảo vệ biên cương Tổ quốc, Đảng ta đã kêu gọi toàn dân, toàn quân đứng lên đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. "Thắng lợi của quân, dân ta ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, một lần nữa chứng minh thế trận lòng dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, tiếp nối xứng đáng thế trận lòng dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược trước đây".
Trước năm 1986, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nước ta lâm vào khủng hoảng KT-XH trầm trọng, đời sống nhân dân khó khăn, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ của chủ nghĩa xã hội giảm sút, thậm chí còn xuất hiện sự hoài nghi vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình đó, Đảng ta đã kiên trì thực hiện các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội; nghiêm khắc sửa chữa những khuyết điểm, từng bước tiến hành đổi mới đất nước. Đường lối đổi mới của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thổi luồng gió mới vào phong trào cách mạng Việt Nam, làm cho nhân dân thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đạt được nhiều thành tựu to lớn, kích thích sản xuất phát triển, làm cho tốc độ lạm phát được kiềm chế, đời sống nhân dân ngày một cải thiện rõ rệt. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố, sự đồng thuận trong các tầng lớp dân cư về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được tăng cường, đó là những điều kiện thuận lợi để củng cố thế trận lòng dân trong xây dựng và BVTQ.
Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và BVTQ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng chiến tranh toàn dân, thực hiện toàn dân giữ nước đã được phát huy đến đỉnh cao. Đảng ta đã nhất quán quan điểm sự nghiệp giữ nước là của toàn dân, trong đó LLVT nhân dân là nòng cốt. Trong chiến tranh giữ nước có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tạo nên thế trận thiên la địa võng đánh địch ở khắp nơi, cả rừng núi, đồng bằng và đô thị, với mọi thứ vũ khí từ hiện đại đến thô sơ, từ tên lửa đến tên tre, lưỡi lê, lưỡi mác... .
Phát huy thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, các kỳ đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X, XI của Đảng tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xác định mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng kế hoạch phát triển KT-XH nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa dân tộc ta vững bước tiến vào thế kỷ XXI dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quán triệt và chỉ đạo toàn dân, toàn quân giữ vững ổn định chính trị đất nước, tăng cường quốc phòng - an ninh (QP-AN) để tạo ra môi trưởng hòa bình ổn định phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại gắn liền với tăng cường sức mạnh quốc phòng BVTQ. Trên cơ sở tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, toàn dân đã đoàn kết xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thế trận lòng dân trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam trở thành thế trận toàn dân giữ nước bao hàm các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao. Công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam không chỉ thuần túy dựa vào LLVT, quân đội (mặc dù LLVT, quân đội luôn được coi là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giữ nước), mà còn dựa vào lực lượng nhân dân cả nước, dựa vào sự đồng tâm nhất trí của cả dân tộc, dựa vào thế và lực toàn diện, cả vật chất, tinh thần của đất nước. Với thế trận toàn dân giữ nước đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù, dù chúng có quân đông, vũ khí trang bị hiện đại đến đâu. "Trong điều kiện một nước mà lực lượng quân sự không nhiều, tiềm lực vật chất so với kẻ thù không lớn, thường phải "lấy yếu chống mạnh", “lấy ít địch nhiều”, thì không còn cách nào khác phải phát huy cao nhất sức mạnh chính trị - tinh thần, dựa chắc vào đó mà xây dựng thế trận toàn dân giữ nước, có như vậy mới tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn hẳn kẻ thù để giữ nước thành công".
Copy right: Tăng âm truyền thanhthiết bị truyền thanh