Hiển thị các bài đăng có nhãn quan chung nhan dan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quan chung nhan dan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước

Bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi được viết sau khi dân tộc ta chiến thắng giặc Minh xâm lược, có tựa đề Quan Hải (đóng cửa biển). Âm thanh của bài thơ còn vang vọng mãi về sau.

Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn

QUAN HẢI
Phiên âm:

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết toả diệt đồ nhiên
Phúc do thuỷ tín dân do thuỷ
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên
Càn khôn kim cổ vô cùng ý
Khước tại thương lang viễn thụ yên

Dịch nghĩa:

ĐÓNG CỬA BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân như nước,
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Hoạ phúc có manh mối không phải một ngày,
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời.





NGUYỄN TRÃI


Bản dịch thơ của Vũ Bình Lục:

Cọc gỗ vững ken dày trước sóng,
Xích sắt ngầm giăng khắp sông sâu
Lật thuyền mới biết bởi đâu
Dân như nước, đất hiểm sâu giúp gì!

Họa phúc có mầm, đâu một buổi
Hận anh hùng, để mấy ngàn năm
Lẽ trời kim cổ xa xăm
Vẫn xanh sắc nước, tím bầm khói mây.

Bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Hai câu mở đầu, khơi nguồn từ một hiện thực như vẫn còn đang hiển hiện trước mắt:

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi!

Cọc gỗ và xích sắt, đấy là những thứ mà nhà Hồ cho làm để chống quân Minh xâm nhập vào cửa biển nước ta. Công bằng mà nói, đó là những việc làm cần thiết đối với việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lúc bấy giờ. Có việc hơi giống tiền nhân Ngô Quyền chống quân Nam Hán, đời tiền Lê (Lê Hoàn) chống quân Tống, và đời Trần (Trần Hưng Đạo) chống Nguyên Mông, đóng cọc ở sông Bạch Đằng, cũng là để chống giặc phương Bắc. Nhưng tiền nhân thì thành công, còn cha con Hồ Quý Ly thì thất bại, cuối cùng bị bắt làm tù binh, rồi chết thảm ở đất giặc. Chỉ riêng Hồ Nguyên Trừng được tha, vì có tài, sau làm quan cho nhà Minh, có công chế tạo súng Thần cơ cho nhà Minh.  Việc cũ đã qua, nhưng vật chứng vẫn đang còn đó, Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển / Xích sắt ngầm dưới sông…như những chứng tích, rưng rưng hiển hiện trước mắt và trong tâm tưởng thi nhân, như thể một nỗi đau xót xa của lịch sử. Hai câu đề, đã thấy rõ thái độ của tác giả.

    Bốn câu thơ tiếp theo, luận về nguyên nhân của sự thành bại và anh hùng thất thế.

Nguyễn Trãi viết: Thuyền bị lật, mới tin rằng dân như nước / Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời / Hoạ phúc có manh mối, không phải một ngày / Anh hùng để hận mấy nghìn năm sau…

   Những âm thanh hội trường của bài thơ trên còn vang vọng Sử sách chép rằng, khi giặc Minh chuẩn bị xua quân sang xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly họp bàn tìm kế chống giặc. Người con cả, Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng nói rằng: Đánh thì không sợ, chỉ sợ lòng dân không theo! Quả đúng như sự thật đã diễn ra sau đó. Về quân sự, nhà Hồ không có tướng tài, đúng hơn là không thể tập hợp được nhân tài. Bản thân Hồ Quý Ly chỉ là một nhà quân sự kém cỏi. Mấy lần làm tướng đánh nhau với quân Chiêm Thành dưới triều Trần, Hồ Quý Ly đều thua trận, bỏ cả đại quân mà chạy tháo thân, lại còn gian manh đổ tội cho người khác, thu vén công lao về cho mình. Còn tướng lĩnh ở triều nhà Hồ, phần lớn chỉ là đồ gan chuột (Ý thơ Nguyễn Mộng Tuân). Vua tôi như vậy, làm sao thắng giặc?

Huống nữa nhà Hồ mới đoạt vương quyền từ nhà Trần suy thoái, lòng dân chưa theo, làm sao có sức mạnh giữ cho con thuyền đất nước không bị lật? Dẫu có đóng cọc trước sóng biển, có giăng xích sắt ở cửa sông, có tìm đất hiểm xây thành đá vững bền, cũng chẳng thể nào ngăn được quân giặc dữ, khi mà lòng dân không theo!
Nên chăng có hệ thống hội thảo chuyên đề về bài thơ này
 Hiện nay, hệ thống thông tin truyền thông, hệ thống truyền thanh trong cả nước đã phát lại nhiều về bài thơ này./.

[[Một ví dụ hay về xây dựng thế trận lòng dân hiện nay:
Thiết bị truyền thanh AAV Việt Nam 
 là hãng công nghệ hàng đầu về các thiết bị điện
 tử, công nghệ số thực sự Made in Việt Nam thời đại cách mạng 
công nghiệp 4.0. Các thiết bị truyền thanh AAV,
 tăng âm truyền thanh AAV được các kĩ
 sư giỏi nhất về âm thanh, ánh sáng, điện tử, tự động hóa, công 
nghệ thông tin nghiên cứu, chế tạo, được sản xuất trên dây chuyền
 hiện đại, linh kiện cao cấp. Do vậy, sản phẩm thiết bị truyền thanh
 AAV Việt Nam - made in Việt Nam chất lượng quốc tế, giá thành 
Việt Nam. Các thiết bị truyền thanh hãng AAV  đều  có tính năng
tiên tiến, ưu việt hơn hẳn các thiết bị truyền thanh nhập ngoại.
Các thiết bị truyền thanh hãng AAV  đều  có tính năng
tiên tiến, ưu việt hơn hẳn các thiết bị truyền thanh nhập ngoại.
Hãng AAV Việt Nam đã thực sự quy tụ được những tài hoa nhất để 
tạo dựng thương hiệu Made in Vietnam. Đây cũng chính 
là biết sử phát huy sức mạnh lòng dân trong thời kì cách mạng 
công nghiệp lần thứ 4 rất sôi động hiện nay ]]

QUAN ĐIỂM, QUAN NIỆM VỀ NHÂN DÂN, THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG LỊCH SỬ

Thế trận lòng dân là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), nhất là sau Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII (1991), dùng để chỉ yếu tố lòng dân được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp quy tụ, phát huy tạo thành "thế trận" thực hiện mục tiêu chính trị, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng, bảo vệ đất nước. Trong lịch sử dân tộc trước đây cũng như lịch sử nhân loại chưa sử dụng thuật ngữ thế trận lòng dân, tuy nhiên, những vấn đề về vai trò của quần chúng nhân dân, yếu tố lòng dân, nghệ thuật sử dụng lực lượng quần chúng,... đã được các chính trị gia, các quốc gia, dân tộc trên thế giới, các triều đại phong kiến Việt Nam hết sức chú trọng. Nhiều nội dung của thế trận lòng dân đã thành những luận điểm, quan điểm chính trị, quân sự ở nhiều quốc gia trên thế giới ngay từ thời cổ đại, trải qua các quá trình lịch sử, phát triển đỉnh cao trong cách mạng XHCN.
Trong lịch sử nhân loại, các quan điểm chính trị, quân sự, triết học trước Mác đều chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của quần chúng nhân dân, thường hoặc phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, một số triết gia, chính trị học đã nhận thức được quần chúng có vai trò hết sức to lớn trong xã hội, xây dựng những học thuyết chính trị về sử dụng lực lượng quần chúng, về yếu tố lòng dân trong giành, giữ, thực thi chính quyền được nhiều vương triều phong kiến sử dụng trị vì xã hội. Tiêu biểu là: Periklès, Khổng Tử và Mạnh Tử.
Periklès là nhà triết gia, lãnh tụ dân chủ uy tín nhất của Athens (Hy Lạp cổ đại thời kỳ 461-429 trước công nguyên) đã khẳng định, thành quốc không phải do một thiểu số mà do đa số (nhân dân) cai trị... hễ ai có khả năng phục vụ nhà nước thì điều kiện tăm tối của đương sự không hề là một trở ngại.
Khổng Tử, nhà triết học lớn của Trung Hoa thời cổ đại đã coi điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền là phải được lòng dân. Muốn được lòng dân, nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân, tức là chăm lo cải thiện đời sống cho dân và phải biết giáo dân, phải chịu khó lo liệu giúp đỡ cho dân, đặc biệt là phải biết làm cho dân giàu.
Mạnh Tử, một đại biểu xuất sắc của Nho giáo Trung Hoa thời cổ đại đã bàn luận rất nhiều về dân. Ông cho rằng mọi chế độ đều phải nhằm vào lợi ích của dân. Lợi ích của dân cũng là lý do tồn tại của thiên tử, chư hầu, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, có nghĩa là dân là quý hơn hết, xã tắc là thứ yếu, vua là thường vì có thể thay đổi vua, được dân là được tất cả, mất dân là mất tất cả.
Tuy nhiên, do hạn chế về thế giới quan duy tâm hoặc duy vật siêu hình nên các quan điểm trên đây chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò của sức mạnh quần chúng nhân, yếu tố lòng dân trong kiến tạo, xây dựng xã hội.
Theo suốt chiều dài lịch sử, ông cha ta đã có quan điểm về vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân, của yếu tố lòng dân, sức mạnh của nhân dân trong quá trình dựng nước, giữ nước.
Các nhà tư tưởng thời kỳ Lý - Trần đã nói nhiều về "ý dân", "lòng dân", coi việc "khoan thư sức dân" là điều hệ trọng bậc nhất trong các hoạt động chính trị. Trong "Chiếu dời đô", Lý Công Uẩn đã nói: "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân..." . Trong bài "Văn lộ bố" khi tiến hành cuộc chiến tấn công quân Tống ở biên giới phía Bắc, Lý Thường Kiệt đã nói: "Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân". Trần Quốc Tuấn, người có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong công cuộc giữ nước, nêu lên tư tưởng "chúng chí thành thành", ý chí của dân là bức thành kiên cố nhất của nước. Sau này, trước khi qua đời, Trần Quốc Tuấn đã tổng kết lịch sử và khẳng định: "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức" là sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp giữ nước.
Thấy rõ nguyên nhân thất bại, khi chiến tranh xảy ra, nhân dân không ủng hộ, dẫn đến mất nước, Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly đã nói: “Giặc mạnh thần không sợ, chỉ sợ lòng dân không theo” . Nguyễn Trãi đã khẳng định sức mạnh vô cùng to lớn của lòng dân. Ông chỉ rõ "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" và khẳng định một nguyên lý rất cơ bản trong giữ nước của dân tộc Việt Nam là lấy đại nghĩa, chí nhân thắng hung tàn, cường bạo. Tổng kết kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi cho rằng, nguyên nhân quan trọng giành thắng lợi là do: ''dân chúng bốn phương tụ hợp...". Phan Bội Châu - một nhà yêu nước lớn của dân tộc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khẳng định, người cả nước không đồng tâm thì dù có anh hùng cũng không thể cứu được nước. 
Mác - Lênin khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quần chúng nhân dân được thể hiện: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội; là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội; là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng và cải cách trong lịch sử.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát rằng trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người phân tích: Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là nhân hòa, nghĩa là mọi người dân đều nhất trí, đồng lòng. Người đã từng khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Chính vì thế “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn ai hết, không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền gốc để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là sự đoàn kết toàn dân, muôn người như một, Người nhấn mạnh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm "lấy dân làm gốc", sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xây dựng nền QPTD, chiến tranh nhân dân. Do đó, đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của cả dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử nước nhà như những mốc son chói lọi nhất.
Những năm gần đây, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh Quân đội ta và nhiều nhà khoa học trong các công trình, bài viết của mình, đã đề cập đến thuật ngữ thế trận lòng dân với tư cách là một nội dung cơ bản của nền QPTD; của sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN. Trong đó, nhấn mạnh xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc, được Đảng ta kế thừa xuất sắc trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phòng BVTQ trong điều kiện mới.

       Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta chỉ rõ quan điểm cơ bản trong nhiệm vụ BVTQ hiện nay là xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ tăng cường QP-AN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, trong đó nhấn mạnh: "Tăng cường sức mạnh QP-AN cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược BVTQ" . Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược BVTQ, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường tiềm lực QP-AN của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, thế trận lòng dân..."

Trong xây dựng thế trận lòng dân, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định xây dựng, củng cố, phát huy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam; xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; xây dựng sự đồng thuận xã hội; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ BVTQ, ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch...
Như vậy, quan niệm thế trận lòng dân đã dần hình thành, nội dung thế trận lòng dân ngày càng sáng tỏ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp và trong toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.
Bài viết bởi tác giả: Tăng âm truyền thanhthiết bị truyền thanh