Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Thế trận lòng dân Việt Nam


Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hầu hết các triều đại đều quan tâm yếu tố lòng dân, xây dựng thế trận lòng dân; coi yếu tố lòng dân là một trong những thành tố đặc biệt quan trọng, cơ sở nền tảng để thúc đẩy, phát huy các thành tố khác, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất to lớn trong xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Tuy nhiên, cũng có triều đại không quan tâm đúng mức việc xây dựng thế trận lòng dân nên thế nước suy yếu, đất nước lâm nguy.

Ngay trong bình minh của lịch sử dựng, giữ nước, nước Văn Lang của các Vua Hùng đã phải đối phó với các âm mưu, ý đồ và tham vọng xâm lấn, bành trướng của các thế lực bá quyền phương Bắc. Các Vua Hùng đã tập hợp muôn họ, phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc. Trước nạn ngoại xâm, được sự đồng lòng, đồng sức của nhân dân, sức dân đã lớn lên như thần Phù Đổng, đánh thắng kẻ thù. Trong cộng đồng người Việt đã sớm hình thành ý thức dân tộc, ý thức tự lập, tự cường, ý thức giữ nước được nhà nước khơi dậy, quy tụ vào công cuộc xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, tạo cơ sở, tiền đề cho việc hình thành, phát triển thế trận lòng dân ở thời kỳ lịch sử tiếp theo.
Từ thế kỷ II trước Công nguyên đến thế kỷ X, nước ta rơi vào ách thống trị, đô hộ tàn khốc của các vương triều phong kiến phương Bắc, song nhân dân ta vẫn nung nấu tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc. "Tinh thần và ý chí này được những người tiến bộ, tiêu biểu trong nhân dân khơi dậy, quy tụ, phát huy trong các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ, giành lại quyền độc lập dân tộc"[1]. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo chống lại sự thống trị của Nhà Hán (năm 40-43); tiếp theo, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống chính quyền đô hộ Nhà Hán đã nổ ra trong suốt hai thế kỷ đầu Công nguyên. Sang thế kỷ thứ III, ngay trong thời kỳ bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa, vẫn bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu lãnh đạo chống lại sự đô hộ của Nhà Ngô (năm 248). Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo (năm 722); khởi nghĩa của Phùng Hưng, Phùng Hải (năm 766); binh biến của Dương Thanh (năm 819); khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đầu thế kỷ X; khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ (năm 931). Đặc biệt, vào năm 938, Ngô Quyền, vị tướng giỏi với tài thao lược và huy động sức mạnh lòng dân, được quân của các tướng, hào kiệt địa phương cùng đông đảo nhân dân trong vùng cung cấp tình hình sông nước, địa hình, địa vật,... nên đã đánh thắng quân Nam Hán xâm lược trên sông Bạch Đằng, giành lại quyền làm chủ đất nước, mở ra thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, kết thúc hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc trên đất nước ta.
Trong thời kỳ văn minh Đại Việt, mặc dù có những lúc thăng trầm, nhưng nhìn chung các vương triều phong kiến đã ý thức khá đầy đủ vị trí, vai trò và phát huy được sức mạnh lòng dân trong giữ nước, thế trận lòngdân trong thời kỳ này thể hiện tập trung trước hết ở tinh thần đoàn kết, ý chí quyết giữ độc lập dân tộc của toàn dân trong xây dựng nhà nước phong kiến thống nhất, tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Đặc biệt là các cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất của Lê Hoàn (năm 981); kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai (năm 1075-1077) của Nhà Lý; 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông của Nhà Trần ở thế kỷ XIII; kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV; Phong trào Tây Sơn chống quân Thanh ở thế kỷ XVIII; các phong trào chống thực dân Pháp xâm lược khắp từ Bắc chí Nam ở thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Tinh thần yêu nước, ý chí quyết giữ độc lập dân tộc của toàn dân đã được huy động cho các cuộc kháng chiến thắng lợi, lập thành thế trận lòng dân vững chắc, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn cho các triều đại phong kiến lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước. Những lúc mà thế trận lòng dân được xây dựng, phát huy tốt thì lúc đó các triều đại phong kiến lãnh đạo nhân dân kháng chiến thắng lợi và xây dựng đất nước phát triển. Tiêu biểu ở các giai đoạn kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thời kỳ hưng thịnh của Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn. Trong các thời kỳ này, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân được các triều đại coi trọng, phát huy, quy tụ. Từ đó, tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn để ngăn ngừa, đẩy lùi nhiều cuộc chiến tranh, đánh thắng nhiều kẻ thù lớn, như: Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh,... bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Ngược lại, lúc nào việc xây dựng thế trận lòng dân không tốt thì lúc đó đất nước lâm nguy, tiêu biểu như ở thời Nhà Hồ (đầu thế kỷ XV) cai trị đất nước bằng chính sách quốc trị không hợp lòng dân, xây dựng phát triển nền nghệ thuật quân sự không dựa vào sức mạnh của toàn dân, không xây dựng được ý chí chiến đấu trong binh sỹ,.. do đó đã để đất nước rơi vào tay giặc Minh. Triều đại chúa Trịnh ở phía Bắc, chúa Nguyễn ở phía Nam (thế kỷ XV-XVIII) luôn tranh giành quyền lực giữa các họ trong triều bằng nội chiến, khiến dân chúng lầm than oán giận, không tạo được sức mạnh của thế trận lòng dân để phát triển đất nước. Triều đình Nhà Nguyễn thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX, đã cai trị đất nước không dựa vào dân, đối lập quyền lợi của dòng họ với quyền lợi tối cao của dân tộc, kìm hãm phong trào chống Pháp của nhân dân, không tin vào sức mạnh của dân tộc, khiếp nhược trước sức mạnh của kẻ thù, do đó đất nước đã rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị, chính thức đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, chống đế quốc, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng thì tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được khơi dậy, phát huy mạnh mẽ và có bước chuyển biến nhảy vọt theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Các tầng lớp nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, tự giác thực hiện đường lối của Đảng trong mọi việc làm, kể cả lúc thuận lợi cũng như trong hoàn cảnh khó khăn của cách mạng.
Ở cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khẩu hiệu giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới, nhân dân cả nước đồng lòng, nhất loạt đứng lên dưới ngọn cờ của Đảng tranh đấu giành độc lập, tạo ra thế trận lòng dân vững chắc để thực hiện tổng khởi nghĩa trang toàn dân. Sức mạnh của toàn dân được phát huy cao độ, do vậy, chỉ trong thời gian ngắn, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi, chính quyền đã về tay công nông từ Trung ương cho đến các địa phương. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân  Pháp, lực lượng của ta liên tục phát triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từng bước tạo nên thế áp đảo quân địch, kết thúc chiến tranh bằng thắng lợi rực rỡ của Chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Mặc dù, sau kháng chiến chống thực dân Pháp, có những sai lầm trong cải cách ruộng đất, nhưng Đảng ta đã dám nhìn thẳng vào sự thật, nhanh chóng sửa sai nên đã tiếp tục quy tụ được lòng dân, cả nước một lòng, toàn dân đoàn kết xung quanh Đảng để tiến hành kháng chiến chống Mỹ và kiến quốc.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta.
“Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến vai trò và giá trị to lớn của thế trận lòng dân đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng. Thế trận lòng dân trong giai đoạn này thể hiện trước hết ở sự đồng thuận của toàn dân với đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam”[2].
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, biên giới nước ta ở phía Tây Nam và phía Bắc bị các thế lực thù địch phát động chiến tranh xâm lấn. Để bảo vệ biên cương Tổ quốc, Đảng ta đã kêu gọi toàn dân, toàn quân đứng lên đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. "Thắng lợi của quân, dân ta ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, một lần nữa chứng minh thế trận lòng dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, tiếp nối xứng đáng thế trận lòng dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược trước đây"[3].
Trước năm 1986, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đời sống nhân dân khó khăn, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ của chủ nghĩa xã hội giảm sút, thậm chí còn xuất hiện sự hoài nghi vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình đó, Đảng ta đã kiên trì thực hiện các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội; nghiêm khắc sửa chữa những khuyết điểm, từng bước đổi mới đất nước. Đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thổi luồng gió mới vào phong trào cách mạng Việt Nam, làm cho nhân dân thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đạt được nhiều thành tựu to lớn, kích thích sản xuất phát triển, làm cho tốc độ lạm phát được kiềm chế, đời sống nhân dân ngày một cải thiện rõ rệt. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố, sự đồng thuận trong các tầng lớp dân cư về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được tăng cường, đó là những điều kiện thuận lợi để củng cố thế trận lòng dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng chiến tranh toàn dân, thực hiện toàn dân giữ nước đã được phát huy đến đỉnh cao. Đảng ta đã nhất quán quan điểm sự nghiệp giữ nước là của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Trong chiến tranh giữ nước có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tạo nên thế trận thiên la địa võng đánh địch ở khắp nơi, cả rừng núi, đồng bằng và đô thị, với mọi thứ vũ khí từ hiện đại đến thô sơ, từ tên lửa đến tên tre, lưỡi lê, lưỡi mác...”[4].
Phát huy thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, các kỳ đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, XII của Đảng tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xác định mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa dân tộc ta vững bước tiến vào thế kỷ XXI dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quán triệt và chỉ đạo toàn dân, toàn quân giữ vững ổn định chính trị đất nước, tăng cường quốc phòng, an ninh để tạo ra môi trưởng hòa bình ổn định để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại gắn liền với tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, toàn dân đã đoàn kết xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thế trận lòng dân trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam trở thành thế trận toàn dân xây dựng và bảo vệ đất nước, bao hàm các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao... Công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam không chỉ thuần túy dựa vào lực lượng vũ trang, quân đội (mặc dù lực lượng vũ trang, quân đội luôn được coi là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giữ nước), mà còn dựa vào lực lượng nhân dân cả nước, dựa vào sự đồng tâm nhất trí của cả dân tộc, dựa vào thế và lực toàn diện, cả vật chất, tinh thần của đất nước. Thế trận toàn dân giữ nước đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù, dù chúng có quân đông, vũ khí trang bị hiện đại đến đâu. "Trong điều kiện một nước mà lực lượng quân sự không nhiều, tiềm lực vật chất so với kẻ thù không lớn, thường phải "lấy yếu chống mạnh", “lấy ít địch nhiều”, thì không còn cách nào khác phải phát huy cao nhất sức mạnh chính trị - tinh thần, dựa chắc vào đó mà xây dựng thế trận toàn dân giữ nước, có như vậy mới tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn hẳn kẻ thù để giữ nước thành công"[5]. Xây dựng thế trận lòng dân luôn gắn với mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, cùng với việc thường xuyên giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, nhiệm vụ cách mạng,... đi đôi với quan tâm giải quyết tốt các lợi ích, gắn phát triển kinh tế với văn hóa - xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân phải có kế thừa, phát triển; có nội dung, phương thức phù hợp với từng thời kỳ, nhất là trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần chú ý phát huy những yếu tố thời đại để có nội dung, phương thức tiến hành phù hợp, hiệu quả nhất, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục trên cơ sở phát huy trách nhiệm của tất cả các cấp, ngành, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo niềm tin, sự ủng hộ rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân.

Bài viết bởi: Tăng âm truyền thanh, thiết bị truyền thanh
          



[1] Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Thế trận lòng dân trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nxb QĐND, H.2007, Tr.41
[2],2 Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Thế trận lòng dân trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nxb QĐND, H.2007, Tr.92, 105

[4] Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Thế trận lòng dân trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nxb QĐND, H.2007, Tr.30
[5] Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Thế trận lòng dân trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nxb QĐND, H.2007, Tr.15

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Phòng chống "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chống âm mưu diễn biến hòa bình hiện nay

Trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang tiến hành nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta. Trong đó chúng luôn xác định chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những trọng điểm nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hoá Quân đội” để loại bỏ công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, phải làm rõ nguyên nhân, tính chất nguy hiểm và những giải pháp nhằm đấu tranh., ngăn chặn, loại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội để giữ vững sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của Đảng, Nhà nước và của Quân đội ta hiện nay. 
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói chung là một khái niệm chỉ sự vận động bên trong của mọi sự vật, hiện tượng. Đó là quá trình biến chất từ bên trong của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội; sự suy thoái của cán bộ, đảng viên, quần chúng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực, tiêu chí cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mác xít, suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng, dần thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hóa”; các tổ chức kinh tế - chính trị, xã hội chệch sang hướng phi xã hội chủ nghĩa; cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô, trên diện rộng sẽ dẫn đến sự chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa sang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.


          Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình suy thoái từ bên trong các tổ chức hoặc của người cán bộ, đảng viên, quần chúng. Đối với cán bộ, đảng viên, quần chúng, đó là quá trình diễn ra từ sự thay đổi lập trường, quan điểm, tư tưởng, đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản sang lập trường, quan điểm, tư tưởng, đạo đức và lối sống tư sản
Nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một mặt là do tác động khách quan bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và do âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; mặt khác, chủ yếu là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bỏ rơi vai trò tiền phong, giảm sút ý chí chiến đấu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Họ ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, bất chấp đạo lý, dư luận, kỷ cương không nghiêm, không gương mẫu, vi phạm nguyên tắc, điều lệ Đảng, nói không đi đôi với làm, thoái hóa biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.


 "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" làm cách mạng màu gây xã hội rối ren khủng hoảng, nước mất nhà tan ở 1 số nước vừa qua

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” thực chất là sự thay đổi của mỗi con người và tổ chức trong chế độ xã hội chủ nghĩa theo chiều hướng tiêu cực, hậu quả hết sức nguy hại dẫn đến sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là điều mà V.I Lê nin đã từng cảnh báo từ rất sớm “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”[1].
          Như vậy: “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không tách rời; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn và cũng là mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang tiến hành đối với cách mạng Việt Nam. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng làm tăng nguy cơ "diễn biến hòa bình" tiến tới mục tiêu xóa bỏ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề có ý nghĩa quyết định để làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời đó cũng là nhiệm vụ cấp bách về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khóa XI, XII đã đề ra.
          Trong Quân đội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy chưa có biểu hiện rõ nét, phạm vi không rộng, tính chất chưa nghiêm trọng, nhưng rất khó phân biệt được đâu là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và không phải là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vì đó là quá trình diễn ra bên trong, chủ yếu về chính trị, tư tưởng của từng con người, từng tổ chức nên ranh giới để phân biệt không định hình, khó xác định. Tuy nhiên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề có thật đang diễn ra, một số biểu hiện như sau:
          Một là, cán bộ, đảng viên thiếu niềm tin, hoài nghi, thậm chí phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, tuyệt đối hóa nhiệm vụ phát triển kinh tế, coi nhẹ, buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đề cao vũ khí luận trong điều kiện mới, coi nhẹ yếu tố chính trị-tinh thần, gây chia rẽ mất đoàn đoàn kết giữa Đảng với Quân đội, Quân đội với nhân dân và công an, đối lập tổ chức đảng với tổ chức chỉ huy ; chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy.
Hai là, sa sút về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc... , nịnh trên, nạt dưới, gây bè, kéo cánh, cổ súy cho lối sống phương Tây, đưa các “giá trị” văn hóa tư sản vào lực lượng vũ trang, làm suy giảm phẩm chất và hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”.
          Ba là, một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng bị các phần tử thoái hóa, biến chất, các thế lực thù địch kích động, lôi kéo, mua chuộc lợi dụng dân chủ, dùng các diễn đàn, mạng xã hội để tuyên truyền trái quan điểm của Đảng, gây phức tạp nội bộ; nghe, tin theo sự tuyên truyền chống phá của địch; quan hệ trao đổi trực tiếp hoặc qua mạng những thông tin tài liệu liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, những vấn đề về nội bộ với người không có trách nhiệm, để kẻ xấu lợi dụng đưa lên mạng hoặc sử dụng để tuyên truyền chống Đảng; bị tác động móc nối, mua chuộc, khống chế cung cấp tài liệu mật cho tổ chức, cá nhân ngoài nước...
          Bốn là, tổ chức đảng, chính quyền vi phạm nguyên tắc điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" rơi vào hình thức, không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; tệ sùng bái cá nhân người có chức, có quyền; tiêu cực trong công tác cán bộ, tài chính, chính sách; bố trí cán bộ không vì việc mà vì người, gây bè kéo cánh, cục bộ, bản vị trong đội ngũ cán bộ, mất đoàn kết nội bộ, gây hoang mang, dao động về tư tưởng, chính trị và làm phát sinh, tạo điều kiện cho tiêu cực phát triển.
          Năm là, hiện tượng nói không đi đôi với làm, "nói một đường, làm một nẻo", nói hay, nói đúng nhưng làm sai hoặc cố tình làm sai; cái sai, lạc hậu, tiêu cực được ngụy biện bằng việc vận dụng nguyên tắc, quy trình, đường lối của Đảng, của cơ chế chính sách, nghị quyết của tổ chức Đảng để đội lốt trở thành cái đúng, cái tiến bộ; được vận động hành lang để tạo sự ủng hộ bởi một nhóm người có chức, có quyền; cái đúng, cái tốt, cái tiến bộ bị thủ tiêu, bị vận động hành lang, phủ nhận trở thành cái tiêu cực, lạc hậu. Hiện tượng làm sai được bao che, khó phát giác, nếu có bị phát hiện thì đổ lỗi cho cơ chế, chính sách, đổ lỗi cho tập thể, thiếu trách nhiệm cá nhân...


Do bị "diễn biến hòa bình" người dân chống lại công quyền, gây nội chiến nước mất nhà tan
          Những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đơn vị trong toàn quân đã tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", coi đó là một nội dung trọng tâm trong tổng thể các nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" gắn với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện và bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực. Đã chủ động ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bộ Quân đội có nhiều chuyển biến; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức trách nhiệm cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; sức mạnh tổng hợp của Quân đội không ngừng được nâng cao.
          Tuy nhiên, quá trình đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Quân đội vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm là: Một số cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, phòng chống âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hoá Quân đội”. Công tác quản lý tư tưởng, giáo dục chính trị tại một số đơn vị thiếu chủ động, nhạy bén, hiệu quả chưa cao. Xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục đạo đức, lối sống và đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có lúc, có đơn vị chưa thường xuyên, thiếu chủ động. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật tuy được xác định là khâu đột phá, nhưng tiến bộ chưa vững chắc, còn để vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, ảnh hưởng bản chất truyền thống Quân đội. Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII ở một số cấp ủy đảng làm, có biểu hiện hình thức, chiếu lệ. Quản lý chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn sơ hở, nội dung, biện pháp đấu tranh tư tưởng – lý luận còn chung chung, tiến hành chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ, lực lượng còn mỏng, phương tiện chưa hiện đại, qui mô chưa rộng, trách nhiệm chưa rõ ràng.


Hoang tàn và khốn khó của 1 số nước do cách mạng màu vừa qua

Trong tình hình mới, để đấu tranh, phòng chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Quân đội hiện nay, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính..., phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, con người; của từng cán cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trong đó, cần tập trung làm tốt những giải pháp cơ bản:
Một là, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hoá, xây dựng Đảng bộ Quân đội thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Đây là nội dung rất quan trọng, nhằm xây dựng cho Quân đội có bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp công nhân, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan tư tưởng thù địch, phản động của kẻ thù, tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nội bộ vững mạnh, mọi cán bộ, đảng viên, quân nhân, tổ chức có khả năng đề kháng tốt chính là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài làm cho mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu hóa.
Để thực hiện tốt các nội dung trên, phải chú trọng giáo dục cho toàn quân nhận thức sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống Quân đội; tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, giáo dục nhận rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến và âm mưu thủ đoạn của chúng, giáo dục phổ biến pháp luật, xây dựng niềm tin chiến thắng của Quân đội trong tình hình mới... Phải làm cho bản chất giai cấp công nhân thấm sâu và phát triển vững chắc trong tư tưởng, tình cảm của toàn quân. Tập trung nâng cao sức mạnh về chính trị, tinh thần, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đảm bảo cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội thật sự trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Gắn xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, nhất là đoàn kết trong cấp uỷ, chỉ huy và chính ủy, chính trị viên ở các cấp. Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh phải đề ra chủ trương giải pháp lãnh đạo đúng đắn, đề cao hiệu lực của chỉ huy để thực hiện thắng lợi nghị quyết; phải quan tâm giáo dục rèn luyện quản lý đội ngũ cán bộ đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác, hoàn thành xuất sắc chức trách nhiệm vụ được giao, đặc biệt, cần chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ Quân đội hiện nay, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Bố trí đúng cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, đánh giá cán bộ công tâm, chính xác, quan tâm làm tốt công tác chính sách cán bộ, thường xuyên giải quyết triệt để, thấu đáo những bức xúc trong cán bộ Quân đội. Tích cực bảo đảm tốt nhu cầu văn hoá tinh thần cho bộ đội, xây dựng môi trường văn hóa ở từng đơn vị cơ sở và toàn quân thực sự phong phú, tốt đẹp, làm cho môi trường Quân đội thực sự thu hút thế hệ trẻ, là nơi nuôi dưỡng nhân cách phẩm chất tốt đẹp cho bộ đội, là màng lọc ngăn chặn văn hóa ngoại lai, phản động, phản tiến bộ xâm nhập và Quân đội.
Hai là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực khác trong Quân đội
Chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, quan liêu, tham nhũng, các tiêu cực là kẻ thù hết sức nguy nguy hiểm, phá hoại từ trong nội bộ Quân đội phá ra, làm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng trở nên phức tạp; làm suy yếu sức mạnh của tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động của của đơn vị và chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của Quân đội, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.
Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy đảng trong Quân đội cần nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện và đánh giá đúng mức độ nguy hại của suy thoái, biến chất của cán bộ, đảng viên, quân nhân; chỉ ra cho được ở cơ quan, đơn vị mình có chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực khác, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”  hay không, nếu có là ai, phạm vi, tính chất, mức độ như thế nào, chống đánh giá chung chung, né tránh, hình thức chủ nghĩa. Từ đó có biện pháp khắc phục giáo dục, rèn luyện, xử lý nghiêm minh, triệt để, không bao che, dung túng, không sợ khuyết điểm. Dân chủ thực sự, mọi cán bộ, đảng viên phải thực sự được là chủ, được làm chủ, được bàn bạc, được tham gia giám sát, mọi mặt hoạt động của đơn vị, không chung chung, hình thức. Minh bạch, công khai tất cả những gì có thể công khai, kể cả công tác cán bộ, từ quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng đến chính sách cán bộ, việc sử dụng ngân sách, kinh phí, công quỹ. Khắc phục bằng được tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy dự án, chạy tội. Thành lập các đường dây nóng, hộp thư tiếp nhận, xử lý thông tin tiêu cực, sai trái, khuất tất trong các đơn vị. Những thông tin tiêu cực về phẩm chất, đạo đức, năng lực của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nếu tin cậy, đúng sự thật cần kiên quyết xử lý. Xây dựng, thực hiện cơ chế chịu trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, không để tình trạng tranh công, đổ lỗi, bất cứ một khuyết điểm nào của đơn vị thì lãnh đạo, chỉ huy ở đó phải gián tiếp hoặc trực tiếp chịu trách nhiệm.
Ba là, tiếp tục thực hiện tốt tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Thường vụ Quân ủy trung ương gắn với đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác kiểm tra giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ đơn vị.
Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII)về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ” gắn với đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là giải pháp thiết thực nhất để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, công tác cán bộ, kiểm tra giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Do vậy, cần thực hiện nghiêm túc các nhóm giải pháp về xây dựng Đảng hiện nay mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII đề ra, kết hợp với đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, triển khai sâu rộng ở mọi cấp trong toàn quân. Trên tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh" như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII đã nêu, đẩy mạnh và nêu cao tinh thần tự phê bình, phê bình, sửa chữa những khuyết điểm khắc phục những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, khắc phục tình trạng “giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”[2] như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ trong Sửa đổi lối làm việc năm 1947. Tự phê bình và phê bình chính là thang thuốc hay nhất, hữu hiệu nhất để chữa chạy khuyết điểm của Đảng và của cán bộ, đảng viên, có tác dụng ngăn ngừa và khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, trong đó phải thực hiện tốt "xây và chống". Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công tác bảo vệ chính trị nội bộ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong đơn vị. Đồng thời giữ vững nguyên tắc không để các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội lợi dụng, kích động tự phê bình và phê bình để gây rối nội bộ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong đơn vị, tạo sự đồng thuận mọi cán bộ, đảng viên, quân nhân.
Bốn là, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lí luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của âm mưu “diễn biến hòa bình”, chú trọng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp tục đề ra chủ trương giải pháp phòng, chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách đồng bộ, thống nhất trong toàn quân
Đấu tranh với các thế lực phản động thù địch địch trên mặt trận tư tưởng, lí luận chống âm mưu “diễn biến hòa bình” có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận xung yếu, nóng bỏng, gay go, quyết liệt hiện nay. Trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn của các thế lực thù địch. Do vậy chú trọng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp tục đề ra chủ trương giải pháp phòng, chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách đồng bộ, thống nhất trong toàn quân là vấn đề hết sức cấp thiết.
          Để tiến hành đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lí luận chống âm mưu “diễn biến hòa bình” có hiệu quả, cần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là định hướng thống nhất tư tưởng trong toàn quân, chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lí luận trong Quân đội có đủ phẩm chất, năng lực, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh. Tổ chức lực lượng đấu tranh rộng rãi trên mọi phương tiện, có lực lượng nòng cốt chuyên sâu, mọi tổ chức, mọi cán bộ, đảng viên, quân nhân đều phải có trách nhiệm đấu tranh. Đi đôi với đấu tranh với kẻ thù phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, chống địch móc nối, cài cắm để các phần tử cơ hội về chính trị hoạt động trong đơn vị.
Đẩy mạnh việc nghiên cứu lí luận tổng kết thực tiễn, sớm kết luận những vấn đề mới bức xúc nảy sinh từ thực tiễn, tạo sự thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, sự đồng thuận trong toàn quân và toàn dân.
Nhận thức đúng tính chất phức tạp, nguy hại và nhận diện cho rõ những biểu hiện cụ thể, mức độ của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Quân đội, để một mặt tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì và đi liền với chủ động chống lại thủ đoạn thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của các thế lực thù địch, mặt khác tăng cường khả năng đề kháng, thông qua xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Đấu tranh phòng chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa Quân đội” của kẻ thù là yêu cầu cấp bách trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong tình hình hiện nay, cho dù tình hình có diễn biến phức tạp thế nào, dù chỗ này, chỗ kia trong xã hội ta hiện nay còn khó khăn, bức xúc, hạn chế, khuyết điểm nhưng với bản chất truyền thống tốt đẹp, được Đảng lãnh đạo, nhân dân tin yêu đùm bọc, nếu phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tốt sẽ làm cho nội bộ Quân đội luôn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, nhất định Quân đội sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

Tác giả: Tăng âm truyền thanh AAV Việt Nam là người nghiên cứu sáng tạo ra sản phẩm tăng âm truyền thanh và các thiết bị truyền thanh hãng AAV Việt Nam nhiều tính năng tiên tiến, hiện đại, chất lượng cao, hơn hẳn các dòng tăng âm truyền thanh, thiết bị truyền thanh trên thị trường Việt Nam hiện nay - kể cả các hãng thiết bị truyền thanh lớn đang có mặt trên thị trường Việt Nam

Tác giả cho phép các tổ chức cá nhân, các hệ thống truyền thanh sử dụng tăng âm truyền thanh công suất lớn phát thanh trên hệ thống truyền thanh địa phương 


[1] V.I.Lê-nin: Toàn tập (2005), Tập 42, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr.311.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập (2000), Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.233.